Chuyên gia nói gì khi ngân hàng được cho vay vượt mốc

Tin Tức

 Mục tiêu của giới hạn đó là để đảm bảo an toàn hệ thống, phân tán rủi ro…

Chủ động hơn ?

Theo Quyết định 13/2018/QĐ-TTg có hiệu lực từ ngày 1/5/2018, các tổ chức tín dụng sẽ được cho vay vượt giới hạn nhiều đối tượng.

Đối tượng áp dụng quyết định này là các tổ chức tín dụng và khách hàng vay vốn, tổ chức, cán nhân liên quan.

Trong đó tổ chức tín dụng bao gồm: Ngân hàng (NHTM nhà nước, NHTM cổ phần, ngân hàng hợp tác xã, ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài); Tổ chức tín dụng phi ngân hàng (Công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác); Tổ chức tài chính vi mô; Quỹ tín dụng nhân dân; Chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

Đối với khách hàng vay vốn, một trong những điều kiện để được vay vốn vượt giới hạn là triển khai các dự án, phương án có ý nghĩa kinh tế – xã hội quan trọng, cấp thiết nhằm thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, phục vụ nhu cầu thiết yếu của đời sống nhân dân thuộc các ngành, lĩnh vực: điện, than, dầu khí, xăng dầu, giao thông, vận tải công cộng và các lĩnh vực khác theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ từng thời kỳ.

Hoặc khách hàng vay vốn triển khai các chương trình, dự án đầu tư được Quốc hội hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư; đầu tư vào các lĩnh vực ưu tiên, khuyến khích theo nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ về phát triển kinh tế xã hội trong từng thời kỳ.

Bình luận về cơ chế cho vay vượt giới hạn nói trên, chuyên gia tài chính-kinh tế Trịnh Đoàn Tuấn Linh cho rằng, Quyết định 13 ra đời để chi phối các đối tượng thuộc Điều 128 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (đã được sửa đổi, bổ sung) về giới hạn cấp  tín dụng.

Mục tiêu của giới hạn đó là để đảm bảo an toàn hệ thống, phân tán rủi ro, tránh tập trung vào một khách hàng nhiều quá vì khi gặp sự cố sẽ ảnh hưởng đến hệ thống ngân hàng.

Thứ nhất, nó đánh đồng tất cả khách hàng, cả khách hàng tốt lẫn khách hàng xấu, đánh đồng ngành nghề và đánh đồng tất cả các dự án, có những dự án mang tính thương mại thông thường, có những dự án mang tính an sinh xã hội. Việc đánh đồng như thế không ổn.”Tuy nhiên, thực tế việc giới hạn theo Điều 128 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 có hai bất cập:

Thứ hai, dù pháp luật đưa ra giới hạn nhưng thực tế khách hàng vẫn lách rất nhiều, thay vì lập một công ty họ mở 2-3 công ty, có nhiều pháp nhân.

Bởi vậy, việc điều chỉnh này lần này thực ra không hề mới, chẳng qua nó hợp thức hóa, rõ ràng hơn, Nhà nước tạo cơ chế, đưa vào quy định để mọi người làm cảm thấy thoải mái hơn, đồng thời dễ kiểm soát rủi ro cho ngân hàng hơn. Các ngân hàng thương mại sẽ được chủ động trong hoạt động kinh doanh của mình, không phải suy nghĩ lấp qua lấp lại”, chuyên gia Trịnh Đoàn Tuấn Linh phân tích.

Trong khi đó, thể hiện một quan điểm khác, PGS.TS Nguyễn Hồng Nga, Trưởng bộ môn Kinh tế học, Trường ĐH Kinh tế-Luật TP.HCM cho rằng, cơ chế cho vay vượt giới hạn đối với các đối tượng nói trên là đi ngược với cơ chế thị trường.

“Việc định hạn tín dụng là do bàn tay vô hình tự điều tiết. Tín hiệu thị trường luôn tốt và hiệu quả hơn tín hiệu từ phía nhà nước theo bàn tay vô hình của Adam Smith. Hơn nữa, các lĩnh vực được vay vốn vượt giới hạn đều thuộc độc quyền của khu vực Nhà nước. Điều này cho thấy bàn tay hữu hình của Nhà nước vẫn còn rất lớn ở Việt Nam và có phần ưu ái những đứa con cưng của mình.

Đây có thể là giải pháp mà Nhà nước mong muốn nhằm giải quyết vốn cho các dự án quan trọng và trọng điểm của Nhà nước. Tuy nhiên, tôi cho rằng điều này dẫn tới hệ quả các DNNN lại được ưu ái khi tiếp cận tín dụng và sự phân biệt giữa DNNN và tư nhân như con đẻ và con rơi.

Tôi có cảm giác là chúng ta chưa nhìn nhận thị trường theo đúng nghĩa và chưa nhìn rõ hiệu quả của cơ chế bàn tay vô hình trong một nền kinh tế thị trường. Nhà nước đang làm thay thị trường chứ không phải bổ sung và hỗ trợ thị trường”, PGS.TS Nguyễn Hồng Nga nhận định.

Trách nhiệm của Nhà nước

Đáng lưu ý, theo Quyết định 13, hồ sơ đề nghị cấp tín dụng vượt giới hạn phải gửi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN). Theo chuyên gia Trịnh Đoàn Tuấn Linh, việc có sự can thiệp của NHNN trong xét duyệt hồ sơ không có nghĩa là Nhà nước phải chịu trách nhiệm trong trường hợp những khoản vay này gặp rủi ro.

Theo đó, quy định này nới rộng để ngân hàng làm thoải mái hơn nhưng bản thân ngân hàng phải thẩm định, lựa chọn dự án có an toàn, phù hợp với ngân hàng, có rủi ro với ngân hàng hay không.

Việc hồ sơ đề nghị cấp tín dụng vượt giới hạn phải qua NHNN chẳng qua là đề phòng trường hợp một số ngân hàng thương mại yếu kém làm bậy chính vì thế NHNN phải coi hồ sơ để đánh giá, nắm được rủi ro. Mặt khác, nó cũng phù hợp cho việc thống kê, báo cáo, phân tích hay định hướng.

Vị chuyên gia cũng nhấn mạnh rằng, trong trường hợp khoản vay vượt giới hạn được thực hiện tại chi nhánh ngân hàng nước ngoài, nó không gây áp lực lên nợ công.

Theo ông Linh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài ở Việt Nam rất hạn chế về thị trường khách hàng, hơn nữa, bản thân việc bị rủi ro cùa nước ngoài cũng khác.

“Việc cho vay vượt giới hạn đối với chi nhánh ngân hàng nước ngoài sẽ phù hợp hơn với họ, giúp họ giải ngân đồng vốn”, ông nói.

Tuy nhiên, PGS.TS Nguyễn Hồng Nga lại bày tỏ sự lo ngại. Theo ông, chắc chắn là Nhà nước phải có trách nhiệm khi NHNN đại diện trong việc xét duyệt hồ sơ cho vay vượt giới hạn khi những khoản vay này gặp rủi ro. Điều này rất dễ dẫn tới hiện tượng thông tin bất cân xứng trong tín dụng ngân hàng và một vấn đề “ngân sách mềm” với các DNNN.

Đặc biệt, nếu khoản vay được thực hiện ở các tổ chức tín dụng quốc tế và nước ngoài thì chắc chắn sẽ gây áp lực không nhỏ lên nợ công của Việt Nam.

Về phía các NHTM, sự chủ động trong kinh doanh  của họ chắc chắn bị ảnh hưởng khi có sự can thiệp từ phía Chính phủ mà đại diện là NHNN khi “bị” đề nghị cho vay các dự án trọng điểm, nhất là các NHTM  tư nhân.

“Điều này tác động tiêu cực đến hoạt động kinh doanh của họ. Bởi:

 (i) như đã phân tích ở trên, họ bị “ép” cho vay khi có sự can thiệp của Nhà nước bằng một quyết định mang tính chủ quan và phi thị trường.

(ii)Họ sẽ còn ít vốn hơn để cho khu vực tư nhân vay;

(iii) Họ không còn quyền tự quyết trên đồng vốn của họ nên rủi ro tín dụng sẽ tăng cao,

(iv) Tác động tiêu cực đến tinh thần doanh nhân của các ông chủ nhà băng và cuối cùng họ sẽ rút khỏi lĩnh vực được coi là quan trọng hàng đầu, hệ thống huyết mạch của nền kinh tế, họ mất niềm tin vào cơ hội kinh doanh tại Việt Nam và rất có thể họ sẽ chuyển vốn ra nước ngoài và điều này lại dẫn tới độc quyền của Nhà nước trong hệ thống ngân hàng. Nếu điều này xảy ra thì nền kinh tế sẽ quay trở lại hình thái trước đây”, ông Nga cảnh báo.

Còn chuyên gia Trịnh Đoàn Tuấn Linh bày tỏ, hạn chế rủi ro không phải ở chỗ đặt ra giới hạn hay không giới hạn. Hiện tại, điều quan trọng nhất là phải minh bạch, lành mạnh hóa hệ thống ngân hàng thương mại và công tác quản lý nhà nước.

  • Thành Luân

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *